1 Vào lúc ban đầu, Thiên Chúa đã sáng tạo các tầng trời và đất.
In the beginning God created the heaven and the earth.
2 Đất đã là vô hình và trống không. Sự tối tăm ở trên mặt vực. Thần của
Thiên Chúa đã vận hành trên mặt nước. {Chữ thần được dùng trong câu này (không có mạo từ xác định, để
chỉ năng lực của Thiên Chúa. Đất lúc bấy giờ là một khối hình cầu
được bao phủ bởi nước nhưng không có một hình thể nào và cũng không có
gì trên mặt đất khác hơn là nước bao phủ khắp bề mặt của đất. Có thể bấy
giờ trái đất được bao phủ bằng một lớp nước đá; vì chưa có sức nóng từ
mặt trời sưởi ấm trái đất.}
And the earth was without form and void, and darkness was upon the face of the deep. And the Spirit of God moved upon the face of the waters.
3 Thiên Chúa đã phán: "Hãy có sự sáng!" Thì đã có sự sáng.
And God said, "Let there be light"; and there was light.
4 Thiên Chúa đã thấy sự sáng ấy [là] tốt lành, thì Thiên Chúa đã phân rẽ sự sáng ra khỏi sự tối.
And God saw the light, that it was good; and God divided the light from the darkness.
5 Thiên Chúa đã gọi sự sáng [là] ban ngày, còn sự tối Ngài đã gọi [là] ban đêm. Vậy, đã có buổi tối và đã có buổi sáng; [ấy là] ngày Thứ Nhất. {Buổi tối là thời điểm bắt đầu một đêm, trung bình là vào lúc 6 giờ chiều. Buổi sáng là thời điểm bắt đầu một ngày, trung bình là vào lúc 6 giờ sáng. Một ngày trung bình 24 tiếng đồng hồ, bao gồm một ban đêm và một ban ngày. Ngày mới bắt đầu từ buổi tối, sau khi ngày hiện tại kết thúc.}
And God called the light Day, and the darkness He called Night. And the evening and the morning were the first day.
6 Thiên Chúa đã phán: "Hãy có một khoảng không ở giữa nước và nó hãy phân rẽ nước với nước!"
And God said, "Let there be a firmament in the midst of the waters, and let it divide the waters from the waters."
7 Thiên Chúa đã làm nên khoảng không, và Ngài đã phân rẽ nước bên dưới khoảng không với nước bên trên khoảng không. Thì đã có như vậy. {Vào lúc ban đầu, có thể chung quanh trái đất, phía trên bầu khí quyển, là một vòng đai nước đá cho tới khi Cơn Lụt Lớn xảy ra.}
And God made the firmament, and divided the waters which were under the firmament from the waters which were above the firmament; and it was so.
8 Thiên Chúa đã gọi khoảng không [là] các tầng trời. Vậy, đã có buổi tối và đã có buổi sáng; [ấy là] ngày Thứ Nhì.
And God called the firmament Heaven. And the evening and the morning were the second day.
9 Thiên Chúa đã phán: "Nước ở dưới các tầng trời phải tụ lại một nơi, và chỗ khô cạn phải bày ra!" Thì đã có như vậy.
And God said, "Let the waters under the heaven be gathered together unto one place, and let the dry land appear"; and it was so.
10 Thiên Chúa đã gọi chỗ khô cạn [là] đất, còn nơi tụ lại của nước Ngài đã gọi [là] các biển. Thiên Chúa đã thấy điều đó [là] tốt lành.
And God called the dry land Earth; and the gathering together of the waters called He Seas; and God saw that it was good.
11 Thiên Chúa đã phán: "Đất phải sinh thực vật non: thảo vật kết hạt giống, cây ăn trái kết quả tùy theo loại mà [có] hạt giống trong mình trên đất!" Thì đã có như vậy.
And God said, "Let the earth bring forth grass, the herb yielding seed, and the fruit tree yielding fruit after his kind, whose seed is in itself, upon the earth"; and it was so.
12 Đất đã sinh thực vật non: thảo vật đã kết hạt tùy theo loại, và cây đã kết quả mà [có] hạt trong mình, tùy theo loại. Thiên Chúa đã thấy điều đó [là] tốt lành.
And the earth brought forth grass, and herb yielding seed after his kind, and the tree yielding fruit, whose seed was in itself, after his kind; and God saw that it was good.
13 Vậy, đã có buổi tối và buổi sáng; [ấy là] ngày Thứ Ba.
And the evening and the morning were the third day.
14 Thiên Chúa đã lại phán: "Hãy có những vì sáng trong khoảng không của các tầng trời để phân ra ngày với đêm, và để chúng là những dấu hiệu để định các kỳ hẹn, cho những ngày và những năm. {Danh từ "מוֹעֵד" /moed/ (H4150) trong tiếng Hê-bơ-rơ chỉ các thời điểm đã định hoặc các kỳ lễ hội hoặc các mùa. Các thiên thể giúp xác định không chỉ những ngày và những năm, mà còn các tháng và các ngày lễ trong Lịch Hê-bơ-rơ.}
And God said, "Let there be lights in the firmament of the heaven to divide the day from the night; and let them be for signs and for seasons, and for days and years;
15 Và để chúng là những vì sáng trong khoảng không trên các tầng trời chiếu sáng trên đất!" Thì đã có như vậy.
and let them be for lights in the firmament of the heaven to give light upon the earth"; and it was so.
16 Thiên Chúa đã làm nên hai vì sáng lớn: vì sáng lớn hơn để cai trị ban ngày, vì sáng nhỏ hơn để cai trị ban đêm; [và] những ngôi sao.
And God made two great lights: the greater light to rule the day, and the lesser light to rule the night. He made the stars also.
17 Thiên Chúa đã đặt chúng trong khoảng không của các tầng trời, để chiếu sáng trên đất;
And God set them in the firmament of the heaven to give light upon the earth,
18 để cai trị trên ban ngày và trên ban đêm; để phân rẽ sự sáng khỏi sự tối. Thiên Chúa đã thấy điều đó [là] tốt lành.
and to rule over the day and over the night, and to divide the light from the darkness. And God saw that it was good.
19 Vậy, đã có buổi tối và buổi sáng; [ấy là] ngày Thứ Tư.
And the evening and the morning were the fourth day.
20 Thiên Chúa đã phán: "Nước hãy sinh sôi nhiều bầy vật [có] linh hồn sống. Những chim hãy bay phía trên đất, khắp mặt của khoảng không!"
And God said, "Let the waters bring forth abundantly the moving creature that hath life, and fowl that may fly above the earth in the open firmament of heaven."
21 Thiên Chúa cũng đã sáng tạo những khủng long biển, mọi linh hồn sống [và] động mà nước đã sinh sôi tùy theo loại, mọi loài chim có cánh tùy theo loại. Thiên Chúa đã thấy điều đó [là] tốt lành.
And God created great whales and every living creature that moveth, which the waters brought forth abundantly after their kind, and every winged fowl after his kind; and God saw that it was good.
22 Thiên Chúa đã ban phước cho chúng, phán [rằng]: "Hãy sinh sản, thêm nhiều và làm cho đầy dẫy nước trong các biển; còn những loài chim hãy thêm nhiều trên đất!"
And God blessed them, saying, "Be fruitful and multiply, and fill the waters in the seas, and let fowl multiply on the earth."
23 Vậy, đã có buổi tối và buổi sáng; [ấy là] ngày Thứ Năm.
And the evening and the morning were the fifth day.
24 Thiên Chúa đã phán: "Đất phải sinh ra linh hồn sống tùy theo loại: súc vật, côn trùng, và vật sống của đất tùy theo loại!" Thì đã có như vậy.
And God said, "Let the earth bring forth the living creature after his kind: cattle and creeping thing and beast of the earth after his kind"; and it was so.
25 Thiên Chúa đã làm nên vật sống của đất tùy theo loại, súc vật tùy theo loại, và mọi côn trùng trên đất tùy theo loại. Thiên Chúa đã thấy điều đó [là] tốt lành.
And God made the beast of the earth after his kind, and cattle after their kind, and every thing that creepeth upon the earth after his kind; and God saw that it was good.
26 Thiên Chúa đã phán: "Chúng Ta hãy làm ra loài người theo hình Chúng Ta, như tượng Chúng Ta. Hãy để họ cai trị trên loài cá biển, trên loài chim trời, trên loài súc vật, trên khắp đất, và trên mỗi loài côn trùng bò trên đất!" {Thiên Chúa tự xưng "Chúng Ta" trong câu này và các câu: Sáng Thế Ký 3:22; 11:7. Chữ Chúng Ta được dùng ở đây là để chỉ về ba thân vị của Thiên Chúa, không phải chỉ về Thiên Chúa và các thiên sứ. Vì không chỗ nào khác trong Thánh Kinh nói rằng, Thiên Chúa dựng nên loài người theo hình và như tượng của thiên sứ. Và các thiên sứ thì có các hình thể khác nhau. Ngoài ra, danh từ "Thiên Chúa" là một danh từ số nhiều được được dùng với động từ số ít}
And God said, "Let Us make man in Our image, after Our likeness; and let them have dominion over the fish of the sea, and over the fowl of the air, and over the cattle, and over all the earth and over every creeping thing that creepeth upon the earth."
27 Thiên Chúa đã sáng tạo loài người theo hình Ngài. Ngài đã sáng tạo nó theo hình Thiên Chúa. Ngài đã sáng tạo họ, nam và nữ.
So God created man in His own image, in the image of God created He him; male and female created He them.
28 Thiên Chúa đã ban phước cho họ và đã phán với họ: "Hãy sinh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất! Hãy bắt phục nó! Hãy quản trị trên loài cá biển, trên loài chim trời, trên mọi vật sống di chuyển trên đất!"
And God blessed them, and God said unto them, "Be fruitful and multiply, and replenish the earth, and subdue it; and have dominion over the fish of the sea, and over the fowl of the air, and over every living thing that moveth upon the earth."
29 Thiên Chúa đã phán: "Này! Ta đã ban cho các ngươi mọi thứ thảo vật kết hạt, chúng [ở] trên khắp mặt đất, và mọi cây mà hạt giống [ở] trong trái của nó. Ấy sẽ là thức ăn cho các ngươi!
And God said, "Behold, I have given you every herb bearing seed which is upon the face of all the earth, and every tree in which is the fruit of a tree yielding seed; to you it shall be for meat.
30 Còn mọi vật sống của đất, mọi chim trời, và mọi côn trùng bò trên đất mà trong nó [có] hồn sống [sẽ là] mọi thứ thảo vật xanh làm thức ăn!" Thì đã có như vậy.
And to every beast of the earth, and to every fowl of the air, and to every thing that creepeth upon the earth wherein there is life, I have given every green herb for meat"; and it was so.
31 Thiên Chúa đã thấy mọi việc mà Ngài đã làm, và kìa [chúng] thật rất tốt lành. Vậy, đã có buổi tối và buổi sáng; [ấy là] ngày Thứ Sáu.
And God saw every thing that He had made, and behold, it was very good. And the evening and the morning were the sixth day.